Điện thoại / Facebook / Zalo: 0909 633 345

Tương Quan Giữa Chu Kỳ Kinh Tế Và Các Ngành Kinh Tế Việt Nam (2009 – 2019)

171 lượt xem - Ngày:

Trong bài dịch và thống kê tương quan giữa chu kỳ kinh tế và các ngành kinh tế Việt Nam 2015, NĐT đã được cung cấp góc nhìn về sự vận động của các ngành trong các giai đoạn của một chu kỳ kinh tế tổng thể. Các góc nhìn về sự tương quan giữa chu kỳ kinh tế và chuyển động ngành tương đối chính xác và thực tế có tính lập lại trên TTCK từ cuộc khủng hoảng 2008. Tuy nhiên, bài viết trước thống kê dựa trên tài liệu tham khảo từ TTCK nước ngoài. Để đáp ứng góc nhìn phù hợp hơn trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam mà trong đó thành phần kinh tế Nhà Nước và các chính sách của Chính Phủ vẫn đóng vai trò chủ đạo, cần thiết phải nhìn nhận và thống kê lại sự vận động của các ngành kinh tế Việt Nam để rút ra sự tương quan phù hợp hơn với đặc thù kinh tế. Bài viết này được chuẩn bị trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng đang đứng trước những nguy cơ suy thoái do dịch Covid-19, so với bài viết trước đây năm 2015 (giữa chu kỳ tăng trưởng kinh tế), bài viết này có thể mang tính kịp thời hơn nhằm chuẩn bị tốt nhất trong việc khai thác các cơ hội khi thị trường bước vào chu kỳ mới trong thập niên tiếp theo. Thật may mắn, TTCK Việt Nam trong hơn 10 năm qua đã có sự mở rộng đáng kể về quy mô và danh sách các cổ phiếu thuộc nhiều ngành khác nhau đã niêm yết kể từ khủng hoảng 2008 phần nào giúp chúng ta có nhiều dữ liệu hơn nhằm bổ sung cho các thống kê trong bài viết trước. Trong bài viết này, tôi cũng sẽ diễn giải các quy luật vận động ngành chi tiết hơn và phù hợp với bối cảnh kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

NĐT có thể tham khảo lại bài viết “Tương quan giữa chu kỳ kinh tế và các ngành kinh tế” (nghiên cứu từ TTCK Mỹ và chỉ số S&P 500) vào năm 2015 trong link bên dưới:

Trong bài viết này, vị trí của các ngành được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên trong 4 giai đoạn của 1 chu kỳ hoàn chỉnh: Giai đoạn phục hồi (2012 – 2014) – Giai đoạn tăng trưởng (2015 – 2018) – Giai đoạn suy giảm (06/2018 – 2019) – Giai đoạn suy thoái (hiện tại).

Bên cạnh đó, mỗi ngành sẽ liệt kê 2 – 3 mã cổ phiếu thuộc top đầu ngành để NĐT tiện tham khảo (hiện tại việc phân chia ngành chỉ tạm thời và mang tính tương đối, việc phân chia có thể sẽ được update và bổ sung thêm các ngành chưa có mặt trong bài phân tích này). Trong mỗi giai đoạn, các ngành được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên về mức độ phục hồi sản xuất và biến động giá chứng khoán.

Đánh giá bối cảnh vĩ mô – tác động chính sách

Trước hết, chúng ta cùng đề cập 1 chút đến diễn biến các chính sách của giai đoạn hiện tại. Giai đoạn suy giảm được tính từ giữa 2018 đến cuối 2019. Dịch Covid-19 thúc đẩy nguy cơ suy thoái diễn ra nhanh hơn và các chính sách kích cầu kinh tế của chính phủ ở thời điểm hiện tại tương đồng với thời điểm đầu 2009.

Tuy nhiên, một điểm rất đáng lưu ý là từ giai đoạn 2007 trở về trước các chính sách chi tiêu công của chính phủ thường tỏ ra ít hiệu quả. Giai đoạn trước khủng hoảng tài chính 2008, hầu hết các chính sách chi tiêu công của Việt Nam đồng pha với chu kỳ kinh tế, chi tiêu Ngân Sách Nhà Nước (NSNN) thường mở rộng vào các năm tăng trưởng và bùng nổ kinh tế, thậm chí đạt đỉnh vào năm 2007 (tham khảo hình 1 – đường nét đứt). Trong đó, chi thường xuyên chiếm tỷ trọng rất lớn do bộ máy cồng kềnh, trong khi chi đầu tư phát triển chiếm tỷ trọng thấp. Hơn nữa, đặc điểm chi tiêu NSNN thời điểm đó chịu tác động của nạn tham nhũng các thời kỳ trước khiến chính sách tài khóa trở nên kém hiệu quả và có tác dụng gây nên bất ổn nhiều hơn là kích thích kinh tế.

Giai đoạn 2009 – 2018, khởi đầu là chính sách tài khóa và tiền tệ kích thích kinh tế sau khủng hoảng tài chính 2008, đi kèm với đó là chủ trương kiểm soát chính sách tài chính chặt chẽ, tinh gọn bộ máy quản lý, giảm tỷ lệ chi thường xuyên và tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chi NSNN, nạn tham nhũng được dẹp bỏ giúp chính sách tài khóa phát huy hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, điểm yếu chi NSNN thường mở rộng cùng pha với chu kỳ kinh tế được điều tiết lại, Chính Phủ linh hoạt hơn và nhanh chóng thực hiện chính sách tài khóa mở rộng nhằm kích thích kinh tế ngay khi có các dấu hiệu hoặc nguy cơ suy thoái kinh tế diễn ra.

Ngày 1/4/2020, chính Phủ đã quyết liệt bơm các chính sách kinh tế nhằm hỗ trợ nền kinh tế trước nguy cơ suy thoái từ dịch Covid-19:

https://cafef.vn/infographic-chinh-phu-da-giam-dau-nen-kinh-te-truoc-covid-19-nhu-the-nao-20200405100057155.chn

Các chính sách kích thích kinh tế thông qua chính sách tài khóa và chính sách nới lỏng tiền tệ này sẽ là đòn bẩy và động lực cho các ngành hưởng lợi trong giai đoạn kinh tế tiếp theo (sau suy thoái) là giai đoạn phục hồi được trình bày đầu tiên trong bài viết này.

Để tránh việc bài viết quá dài do rất nhiều biểu đồ được đưa vào bài viết trong quá trình phân tích, NĐT vui lòng tham khảo nội dung chính trong bài viết này đi kèm 4 video phân tích các nhóm ngành thông qua biểu đồ PTKT trong link bên dưới, 4 video tương ứng phân tích các nhóm ngành trong 4 giai đoạn của 1 chu kỳ kinh tế sẽ lần lượt được update:

Bên dưới là đồ thị VNINDEX giai đoạn 2009 – 2019 được lồng ghép vào Logo đại diện cho các nhóm ngành. Độ dài của Logo tương ứng với giai đoạn và thời gian tăng trưởng giá cổ phiếu của các ngành, điểm đầu của logo là điểm khởi đầu của nhịp phục hồi và điểm đặt logo là điểm thời kỳ mà ngành đó bùng nổ và hưng thịnh.  

(1) Giai đoạn phục hồi (Early – Stage phase): Đánh dấu thời kỳ phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế sau suy thoái khi tốc độ tăng trưởng chuyển dịch từ số âm sang số dương. Tăng trưởng tín dụng được nới lỏng thông qua các chính sách tiền tệ, hàng tồn kho của nền kinh tế giảm mạnh trong bối cảnh doanh thu tăng cao.

Thành quả của giai đoạn này hầu như được thừa hưởng từ các chính sách kích thích kinh tế như kích thích tài khóa hoặc nới lỏng tiền tệ của giai đoạn suy thoái trước đó.

Trong đồ thị bên trên có thể thấy rằng các nhóm ngành phục hồi nhanh nhất từ đáy suy thoái sẽ là VLXD – Công Nghệ Thông Tin – Công Nghiệp

1 . Ngành Vật Liệu Xây Dựng: HPG, HSG, BMP, NTP, KSB, C32, HT1, BCC

Trong thống kê của bài viết nguyên bản 2015, ngành VLXD là ngành có tốc độ phục hồi sớm và mạnh nhất trong giai đoạn phục hồi kinh tế.

Ngành VLXD được phân loại thành 2 cấu phần trong đó có các nhóm sẽ được hưởng lợi ở cả 2 pha của chu kỳ kinh tế: pha đầu là pha mà chủ yếu được hưởng lợi từ các chính sách tài khóa của chính phủ trong chi đầu tư phát triển và các công trình trọng điểm (trong giai đoạn suy thoái). Hầu hết sẽ là các DN đầu ngành trong lĩnh vực VLXD, do các DN này dẫn đầu về thị phần, công nghệ và chất lượng sản phẩm vượt trội hơn nhóm DN top 2. Hơn nữa, trong giai đoạn suy thoái trước giai đoạn phục hồi, hầu hết các DN đầu ngành với thế mạnh về thị phần và lợi thế kinh tế nhờ quy mô (chi phí sản phẩm rẻ hơn nhờ quy mô, công suất lớn và có cơ cấu tài chính an toàn), dễ dàng chèn ép các DN nhỏ hơn để hưởng lợi đầu tiên từ các chính sách kinh tế của chính phủ trong giai đoạn các DN đang chật vật về tài chính, cạnh tranh nhau về giá cả trong bối cảnh tăng trưởng ngành đang bão hòa và sụt giảm.

Trong nhóm VLXD thì các DN đâu ngành thép như HPG, nhựa BMP (cơ cấu sản phẩm chủ đạo là phân khúc cho các công trình lớn), KSB sẽ là các DN hưởng lợi trong pha đầu từ tác động của các chính sách kích thích kinh tế, đặc biệt là chính sách tài khóa (tăng đẩy mạnh chi đầu tư phát triển, chi cho các công trình trọng điểm quốc gia).

Nhóm còn lại là nhóm các DN nhỏ hơn có xuất phát điểm phục hồi ở giữa cuối giai đoạn này và đa phần sẽ hưởng lợi trong giai đoạn tiếp theo là giai đoạn tăng trưởng của nền kinh tế. Hầu hết hưởng lợi từ phân khúc VLXD dân dụng được trình bày trong giai đoạn tiếp theo (giai đoạn tăng trưởng).

2. Ngành Công Nghệ: FPT, VGI

Cổ phiếu công nghệ có tính chu kỳ, vì nó phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu chi tiêu vốn và vào nhu cầu của người tiêu dùng và doanh nghiệp. Tuy nhiên, các công ty công nghệ có tiềm năng lớn trong dài hạn, vì các sản phẩm công nghệ thường có tính ứng dụng cao và công nghệ mới luôn thu hút người sử dụng. Cổ phiếu công nghệ thường được ưa chuộng ở giai đoạn bắt đầu hoặc giữa của chu kỳ tăng trưởng kinh tế.

Thời đại hiện tại là thời đại của công nghệ, Việt Nam đang là nước có độ mở lớn và hội nhập sâu rộng khi tỷ trọng kiêm ngạch XNK chiếm đến 200% GDP. Lợi thế về vị trí địa lý phù hợp với xu hướng các phát triển các nền kinh tế vệ tinh biển trên thế giới (các nước có vị trí đại lý và biển chiến lược sẽ là các nước có nền kinh tế công nghệ cao phát triển mạnh). Bên cạnh đó, Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, cơ sở hạ tầng vẫn còn ở mức thấp nên còn rất nhiều tiềm năng phát triển. Các chính sách tài khóa và chi đầu tư phát triển các công trình trọng điểm sẽ đi kèm với việc tích hợp hạ tầng công nghệ hiện đại. Số lượng các công ty công nghệ hiện tại còn ít và thế mạnh hầu hết tập trung vào các công ty đầu ngành như FPT, VGI sẽ là lợi thế lớn cho các DN này. Hơn nữa, giai đoạn 2009 – 2019 cũng là giai đoạn Chính Phủ cân đối và đẩy mạnh hỗ trợ kinh tế tư nhân, tập trung vào các DNTN hàng đầu nhằm tạo 1 cơ cấu kinh tế lành mạnh và có tính cạnh trên trường quốc tế sẽ là ưu thế của các DN đầu ngành như FPT.

3. Ngành Vận Tải: GMD, DVP, DRC, CSM (chờ update thêm)

Ngành vận tải đường sắt, đượng bộ và đường thủy thường phản ánh rất nhanh với dấu hiệu kinh tế phục hồi. Trong giai đoạn này, các đơn đặt hàng bắt đầu gia tăng, nền sản xuất phục hồi trở lại nên ngành vận tải hưởng lợi đầu tiên. Trong khi đó vận tải hàng không phụ thuộc rất nhiều vào giá nhiên liệu, hiệu suất sử dụng máy bay và áp lực cạnh tranh về giá.

Trên biểu đồ bên trên, hầu như độ dài phục hồi của ngành vận tải trải dài trong giai đoạn phục hồi kinh tế.

4. Hàng Hóa Vốn

5. Hàng Tiêu Dùng Không Thiết yếu: MWG (điện thoại), PNJ (trang sức), HAX (Ô tô)

Cổ phiếu thuộc nhóm này bao gồm hàng tiêu dùng lâu bền và không lâu bền khá nhạy cảm với lãi suất và chu kỳ kinh tế (hàng gia dụng điện tử và các mặt hàng xa xỉ khác).

Trong giai đoạn đầu phục hồi tăng trưởng kinh tế, theo thống kê thì nhóm hàng tiêu dùng không thiết yếu cũng thuộc nhóm có sự phục hồi sớm và có tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Tuy nhiên, mức độ phục hồi có độ trễ hơn so với các nhóm ngành khác và rơi vào giữa cuối giai đoạn này. Có thể thấy, PNJ phục hồi từ 2014 và bùng nổ mạnh mẽ trong cuối giai đoạn tăng trưởng 2017 – 2018.

Thời kỳ hưng thịnh và bùng nổ của nhóm này vẫn rơi vào giữa cuối giai đoạn tăng trưởng kinh tế.

6. Ngành Xây Dựng và Bất Động Sản: CTD, HBC, VIC, KDH, NLG, DXG, PDR

Ngành Xây dựng và BĐS cũng bắt đầu có những tín hiệu phục hồi từ giữa cuối giai đoạn đầu tiên của chu kỳ kinh tế. Có độ trễ pha so với nhóm VLXD vì theo nguyên tắc ghi nhận doanh thu lĩnh vực BĐS thì DN BĐS chỉ được ghi nhận doanh thu đã hoàn thành và bàn giao nhà cho khách hàng hoặc phải đáp ứng các điều kiện về mặt nguyên tắc kế toán khi ghi nhận doanh thu.

13. Ngành dầu khí (năng lượng): GAS (được đánh số 13 do các tác động địa chính trị khó lường và khó dự báo nên được đặt sau cùng)

Ngành năng lượng bao gồm những công ty thăm dò dầu mở quốc tế hoặc nội địa, các công ty cung cấp dịch vụ năng lượng. Mỗi công ty có một động lực khác nhau, nhưng nhìn chung, đều chịu tác động của mối tương quan cung cầu thế giới. Trong lịch sử, những bất ổn chính trị thường gây tác động rất lớn đến ngành năng lượng. NĐT ưa chuộng cổ phiếu ngành năng lượng khi tăng trưởng kinh tế gần đạt đỉnh.

Cung cầu giá dầu chịu tác động rất lớn từ triển vọng tăng trưởng kinh tế thế giới. Trong giai đoạn 2009 – 2019, nhóm dầu khí có chu kỳ tăng giá mạnh trong giai đoạn đầu phục hồi tăng trưởng kinh tế và giữa cuối giai đoạn tăng trưởng kinh tế.

Lưu ý: Trong giai đoạn phục hồi đầu chu kỳ kinh tế, ngành có tốc độ phục hồi yếu nhất và có độ trễ là ngành tài chính (Ngân hàng – Bảo Hiểm – Chứng Khoán) do thông thường đây là giai đoạn hệ thống ngân hàng xử lý những hậu quả từ giai đoạn khủng hoảng tài chính hoặc suy thoái kinh tế trước đó và “bận” cơ cấu lại nợ xấu trong toàn hệ thống. Kể từ sau khủng hoảng kinh tế 2008 đến 2012, hầu hết hệ thống ngân hàng thời điểm đó vẫn còn rất nhiều bất ổn, nợ xấu gia tăng và hầu hết tập trung vào việc xử lý và cơ cấu nợ xấu từ 2012 -2015. Đến khi hệ thống dần ổn định, tiến trình xử lý và cơ cấu nợ xấu đạt được những chuyển biến tích cực thì nhóm cổ phiếu tài chính – ngân hàng mới bắt đầu có chu kỳ bùng nổ. Covid-19 một lần nữa đặt hệ thống tài chính – ngân hàng vào những bất ổn trước mắt nhưng so với cuộc khủng hoảng tài chính 2008 mà bản chất là tác động của các nợ xấu đi kèm với hiện tượng bong bóng tài chính, đặt nhóm tài chính ngân hàng vào tính thế éo le thì ở thời điểm hiện tại, cơ cấu nợ của nhóm tài chính – ngân hàng chủ yếu xuất phát từ khó khăn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do dịch Covid-19 gây ra, về mặt bản chất nợ xấu sẽ ít nghiêm trọng hơn thời điểm khủng hoảng 2008 (do các khoán thế chấp không bị thổi phòng giá trị như thời điểm 2008). Sức khỏe của nhóm ngân hàng sau cú shock 2008 cũng đã được cải thiện đáng kể khi hầu hết các ngân hàng đã nâng tầm với việc đáp các điều kiện để thực hiện chuẩn hóa theo Basel II nên có thể trong chu kỳ kinh tế tiếp theo, mức độ phục hồi của nhóm tài chính – ngân hàng sẽ được thúc đẩy nhanh hơn so với chu kỳ 2009 – 2019.

Một lưu ý khác cũng khá quan trọng, là hầu hết các ngành có sự phục hồi nhanh nhất trong giai đoạn đầu phục hồi kinh tế cũng là các ngành đã điều chỉnh đầu tiên trong giai đoạn suy giảm trước đó (ví dụ như ngành thép và các ngành liên quan vận tải như săm lốp đã bảo hòa và đạt đỉnh từ giữa 2018 và không có sự phục hồi đáng kể từ đó đến nay).

Đối với các DN trong cùng 1 ngành, DN nào có lợi thế cạnh tranh vượt trội và cơ cấu tài chính khỏe mạnh khi đi qua giai đoạn suy thoái, thường sẽ là DN có tốc độ phục hồi nhanh nhất.

(2) Giai đoạn tăng trưởng (Mid – Cycle phase): Là thời kỳ kéo dài nhất trong mỗi chu kỳ kinh tế điển hình. Đặc điểm của thời kỳ này là tốc độ tăng trưởng luôn dương, nhưng ở tốc độ vừa phải so với thời kỳ đầu. Các hoạt động kinh tế và tăng trưởng tín dụng sôi động trong khi hàng tồn kho của nền kinh tế và doanh thu nhanh chóng tiệm cận với mức cân bằng.

Đây là giai đoạn sung mãn nhất của chu kỳ kinh tế nên hầu như tất cả các ngành đều góp mặt.

1 . Ngành Vật Liệu Xây Dựng: HPG, HSG, BMP, NTP, KSB, C32, HT1, BCC

Bước vào giai đoạn tăng trưởng kinh tế, ngành VLXD tiếp tục bùng nổ do hoạt động kinh tế phục hồi, thu NSNN sung mãn dẫn đến chi NSNN đầu tư vào cơ sở hạ tầng được mở rộng. Bên cạnh đó, đây là giai đoạn thị trường BĐS phục hồi và phát triển mạnh đi theo cơ sở hạ tầng được phát triển trong giai đoạn trước đó cũng giúp ngành VLXD tiếp tục hưởng lợi, phát triển và toàn dụng công suất.

2. Ngành Công Nghệ: FPT, VGI

Một lần nữa, nhóm ngành công nghệ vẫn là nhóm phát triển và hưng thịnh trong giai đoạn sung mãn nhất của chu kỳ kinh tế.

3. Ngành Vận Tải: GMD, DVP, DRC, CSM (liên quan ngành vận tải), (chờ phân loại và update lại)

Ngành vận tải, hầu hết các DN Việt Nam không thực sự có lợi thế cạnh tranh so với các DN nước ngoài nên hầu như được hưởng lợi khi nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng trưởng. Giai đoạn này, tổng cầu trong nền kinh tế tăng trưởng mạnh và sung mãn giúp các DN này toàn dụng công suất tốt hơn, biên lợi nhuận được cải thiện so với giai đoạn trước.

4. Hàng Hóa Vốn (chờ phân loại và update)

5. Hàng Tiêu Dùng Không Thiết yếu: MWG (điện thoại), PNJ (trang sức), HAX (Ô tô)

Đây là thời kỳ mà thu nhập của người dân và tổng cầu trong nền kinh tế tăng trưởng mạnh nên chi tiêu vào các hàng hóa tiêu dùng không thiết yếu phát triển và hưng thịnh nhất, đặc biệt vào giữa cuối giai đoạn này.

6. Ngành Xây Dựng và Bất Động Sản: CTD, HBC, VIC, KDH, NLG, DXG, PDR

Ngành xây dựng và BĐS bắt đầu phục hồi từ cuối giai đoạn phục hồi kinh tế và hưng thịnh vào giữa và cuối giai đoạn tăng trưởng kinh tế, có độ trễ pha so với các nhóm ngành sản xuất – công nghiệp. Ngành này gần như là giao thoa chuyển tiếp giữa các nhóm ngành sản xuất – công nghiệp với nhóm ngành tài chính – ngân hàng.

Trong giai đoạn này, thị trường BĐS tăng trưởng mạnh và hưng thịnh, đặc biệt là giữa cuối giai đoạn tăng trưởng kinh tế.

7. Ngành VLXD Dân Dụng: VCS, CVT

Ngành VLXD được chia thành 2 nhóm, nhóm ưu tiên bên trên là nhóm được hưởng lợi từ chi tiêu phát triển cơ sở hạ tầng từ chính sách tài khóa kích thích kinh tế. Nhóm các DN theo sau sẽ phát triển và có tốc độ tăng trưởng mạnh vào giai đoạn này, chủ yếu được hưởng lợi từ sự bùng nổ của thị trường BĐS.

Trong phân khúc các nhóm ngành có liên quan với nhau như VLXD – XD – BĐS – VLXD dân dụng chúng ta cũng thấy tính logic phục hồi của các nhóm ngành theo sự phân loại bên trên. VLXD thô như thép, xi măng phục hồi đầu tiên (do hưởng lợi sớm từ các chính sách tài khóa trong giai đoạn suy thoái), tiếp tục hưng thịnh khi thị trường BĐS phục hồi. Sau đó, đến nhóm XD – BĐS và cuối cùng khi công trình hoàn thành xong thì nhóm ghi nhận sự phục hồi và thăng hoa cuối cùng là nhóm BĐS dân dụng (là các nhóm cung cấp gạch men, đá granite, bồn tắm,…) được bổ sung khi các công trình BĐS sắp hoàn thành vào giai đoạn cuối.

8. Ngành Nguyên Liệu Cơ Bản: Cao Su, đường (chờ phân chia lại và có nhận xét chi tiết)

Ngành nguyên liệu cơ bản cũng là ngành có độ trễ pha vì hầu hết giai đoạn đầu phục hồi của chu kỳ kinh tế. Tăng trưởng của hầu hết các ngành chỉ mới phục hồi, chưa thực sự toàn dụng công suất cho cả ngành, nên nhu cầu các nguyên liệu cơ bản trong sản xuất và tiêu dùng thường phục hồi từ đầu giai đoạn tăng trưởng kinh tế.

9. Ngành Tài Chính (Ngân hàng – Bảo hiểm – Chứng khoán): VCB, BVH, SSI

Ngành ngân hàng sau giai đoạn tất bật với việc xử lý “hậu quả” từ giai đoạn suy thoái kinh tế và bắt đầu hưởng thành quả từ đầu giai đoạn tăng trưởng kinh tế khi hầu hết các nhóm ngành khác trong nền kinh tế bắt đầu bước vào giai đoạn mở rộng công suất, tăng trưởng tín dụng mở rộng.

 Trong giai đoạn này, hoạt động giao dịch kinh tế sôi động giúp cơ cấu lợi nhuận từ dịch vụ cải thiện, lãi suất cũng rục rịch tăng đóng góp thêm 1 phần vào việc cải thiện biên lợi nhuận của các ngân hàng.

Trong thập niên tới, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng, thu nhập và trình độ tri thức được nâng cao nên ngành bảo hiểm sẽ là ngành tiềm năng trong thập niên tiếp theo.

Trong khi đó, ngành chứng khoán đứng trước áp lực cạnh tranh gay gắt từ các công ty chứng khoán nước ngoài. Điểm thuận lợi đối với ngành chứng khoán là trong chu kỳ sắp tới, TTCK Việt Nam có thể bước vào giai đoạn 3 của quá trình phát triển thị trường vốn (Giai đoạn tự do hóa thị trường vốn), thường là giai đoạn bùng nổ về quy mô và thanh khoản khi các rào cản và cơ chế giao dịch được hoàn thiện.

10. Ngành Chăm Sóc Sức Khỏe: DHG, IMP (chờ update)

Ngành chắm sóc sức khỏe bao gồm các công ty dược phẩm, trung tâm chăm sóc sức khỏe, công ty công nghệ sinh học và các hãng sản xuất thiết bị y tế. Cổ phiếu thuộc nhóm này có tính phòng vệ cao và không chịu tác động của chu kỳ kinh tế.

Các công ty dược phẩm chịu tác động của thị phần, thời gian cấp phép lưu hành thuốc, vòng đời của bản quyền sản xuất thuốc và kết quả của hoạt động nghiên cứu và phát triển (R & D). Trong khi đó, các công ty công nghệ sinh học hiện vẫn đang trong giai đoạn phát triển và vận may của họ phụ thuộc vào kỳ vọng rất lớn của NĐT vào giá trị của các phát minh mới. Trong tương lai, do việc huy động vốn khó khăn hơn, nhiều khả năng sẽ có sự liên kết chiến lược giữa các công ty dược phẩm lớn và các công ty công nghệ sinh học.

Theo thống kê giai đoạn 2009 – 2019 thì hầu như ngành dược có mặt trong cả 3 giai đoạn kinh tế (trừ giai đoạn suy thoái).

13. Ngành dầu khí (năng lượng): GAS

(3) Giai đoạn suy giảm (Late – Cycle phase): Nền kinh tế tăng trưởng quá nóng khơi màu suy thoái và lạm phát gia tăng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm dần bởi các chính sách tiền tệ, tăng trưởng tín dụng thắt chặt, biên lợi nhuận giảm dần. Hàng tồn kho vẫn tăng trong khi tốc độ tăng trưởng doanh thu giảm dần.

Bước sang giai đoạn này, hầu hết các ngành sản xuất – công nghiệp đã đạt được mức độ toàn dụng công suất, doanh thu ngành bắt đầu tăng trưởng chậm lại và bão hòa. Tăng trưởng tín dụng thắt chặt để kìm hãm đà gia tăng của lạm phát (đà tăng của lạm phát sẽ có độ trễ từ các giai đoạn mở rộng tín dụng và nới lỏng tiền tệ trước đó), đi kèm lãi suất tăng dần ăn dần vào lợi nhuận của các lĩnh vực sản xuất.

Ngược lại, đây là giai đoạn mà ngành tài chính sung mãn nhất và thừa hưởng thành quả của các giai đoạn mở rộng tín dụng trước đó. Mặc dù, LN của DNSX sụt giảm nhưng cơ cấu tài chính trong giai đoạn này chưa xuất hiện các rủi ro đe dọa suy thoái nên nhóm tài chính ngân hàng vẫn thừa hưởng dòng lợi nhuận từ việc chi trả lãi suất của các DNSX trong nền kinh tế, lãi suất tăng góp phần giúp biên LN tăng. Chúng ta cũng thấy rằng, không ít các cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế trong lịch sử mà phần nào xuất phát từ những đợt bùng nổ bong bóng tài sản tài chính cuối các giai đoạn tăng trưởng và suy giảm kinh tế. Nhóm tài chính – ngân hàng đa phần sẽ có sóng 5 tăng giá mở rộng vào giai đoạn cuối chu kỳ kinh tế.

9. Ngành Tài Chính (Ngân Hàng): VCB, BID, CTG, ACB, MBB

10. Ngành Chăm Sóc Sức Khỏe: DHG, IMP

8. Ngành Nguyên Liệu Cơ Bản: Cao Su, đường (chờ update)

(4) Giai đoạn suy thoái (Reccession phase): Lợi nhuận của doanh nghiệp giảm mạnh trong bối cảnh khan hiếm nguồn vốn cho các hoạt động kinh tế. Các chính sách tiền tệ dần được nới lỏng, hàng tồn kho tiếp nối đà giảm trong khi doanh thu duy trì ở mức thấp.

Hầu hết các ngành đều sụt giảm do rủi ro hệ thống trong giai đoạn này.

Đặc thù 2 ngành tiện ích công cộng và tiêu dùng thiết yếu được tách riêng ra bên dưới do cung cầu và dòng tiền các ngành này khá ổn định, ít có tính co giãn theo chu kỳ kinh tế. Nhưng đa phần, biến động giá của các nhóm ngành này hầu hết đồng pha với các chu kỳ kinh tế. Ví dụ REE, có mặt hầu hết trong 3 giai đoạn của chu kỳ kinh tế và vẫn giảm giá trong giai đoạn suy thoái 2007 – 2008.

11. Ngành dịch vụ tiện ích (điện, nước): REE, TDM, BWE

Theo thống kê trong bài viết 2015 có kết luận ngành điện, nước vẫn là các cổ phiếu được săn đón trong các giai đoạn suy thoái do đặc tính ổn định và dòng tiền đều nhưng tác động của dịch Covid-19 ở thời điểm hiện tại gây nên rủi ro hệ thống và sự hoảng loạn trên thị trường nên chúng ta chưa được kiểm chứng sức mạnh của nhóm cổ phiếu này trong giai đoạn hiện nay. Hầu như nhóm ngành này có mặt trong hầu hết các pha tăng trưởng của chu kỳ kinh tế do đặc thù Việt Nam đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, dân số đông nên nhu cầu điện nước hầu như vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng đều đặn hằng năm.

 12. Ngành tiêu dùng thiết yếu:

Cổ phiếu của những ngành hàng tiêu dùng không có tính chu kỳ (thực phẩm) và các ngành hàng tiêu dùng có tính tăng trưởng (mỹ phẩm, thuốc lá, nước giải khát) có sức cầu khá ổn đinh và ít nhạy cảm với chu kỳ kinh tế. Do đó, các cổ phiếu này hấp dẫn NĐT khi thị trường chứng khoán và chu kỳ kinh tế đạt đỉnh hoặc ở đầu giai đoạn suy thoái.

Kết luận: Trong báo cáo bên trên, chúng ta tạm chia các ngành trong nền kinh tế thành 13 ngành. Trong mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh tế, thứ tự ưu tiên của các ngành được sắp xếp từ trên xuống dưới (các nhóm ngành đặt đầu tiên có tốc độ phục hồi và bùng nổ đầu và giữa giai đoạn, trong khi các nhóm đặt phía sau thường bùng nổ vào cuối giai đoạn đó). Việc phân loại ngành trong bài viết này chưa được hoàn chỉnh và khó tránh nhiều thiếu sót, việc phân loại ngành sẽ tiếp tục được update và hoàn thiện ngay trên bài viết này.

Đi kèm bài viết sẽ là Series bài viết và video phân tích chuyên sâu về vĩ mô trong từng giai đoạn như chuyển động chính sách, các biến số vĩ mô như lãi suất, lạm phát, GDP, PMI và tỷ giá.

Các bài viết và video phân tích chi tiết và cụ thể từng ngành (điểm mạnh, yếu, cơ cấu ngành và lợi thế cạnh tranh theo từng giai đoạn) theo thứ tự ưu tiên trong từng giai đoạn được sắp xếp bên trên nhằm cung cấp góc nhìn kịp thời cho quý NĐT để tận dụng và nắm bắt cơ hội trong chu kỳ tới.

Như vậy, ưu tiên của chúng ta trong thời gian tới là phân tích các chính sách và các biến số vĩ mô ở thời điểm hiện tại (giả định là nền kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái) và tìm kiếm các cơ hội từ các ngành phục hồi đầu tiên trong giai đoạn phục hồi kinh tế (phân tích Top -– Down).

NĐT vui lòng tham khảo các video phân tích vĩ mô, ngành, nhận định PTKT trên kênh youtube: COPHIEU24H TV

https://www.youtube.com/channel/UCp6ToXO7Q6maZDJ8-N1iyFw

Và đừng quên Đăng ký kênh để nhận các video phân tích mới nhất.

VIỆT HỒ


BÌNH LUẬN( 0)

CÁC TIN LIÊN QUAN