Điện thoại / Facebook / Zalo: 0909 633 345

Năm 2018: Cơ Hội Lớn – Thách Thức Lớn!

297 lượt xem - Ngày:

Năm 2017, TTCK Việt Nam thăng hoa khi chỉ số VNINDEX tăng trưởng đột phá với mức tăng trưởng kỷ lục 45%. Tiếp nối đà thăng hoa đó, năm 2018 khởi đầu tương đối thuận lợi khi thị trường bùng nổ và ngập tràn sắc xanh ngay từ đầu năm. Nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng bước vào giai đoạn tăng trưởng tích cực là nền tảng cho sự thăng hoa đó. Những giai đoạn thăng hoa như thế này là cơ hội lớn để tích lũy tài sản từ các kênh đầu tư. Tuy nhiên, sự tăng trưởng nóng của các thị trường cũng là lúc thách thức và rủi ro bắt đầu tích lũy và nảy sinh. Do đó, để luôn chủ động nắm bắt cơ hội và kiểm soát rủi ro trong đầu tư, cần thiết phải xem xét nền kinh tế và TTCK dưới góc độ vĩ mô dài hạn và những cơ hội mang tính đầu cơ trong ngắn hạn.


Bài viết này sẽ đề cập đến những chủ đề quen thuộc như lãi suất (chính sách tiền tệ), nâng hạng thị trường và thoái vốn nhà nước. Tuy nhiên, tôi sẽ lồng ghép các chủ đề này dưới góc độ chung, xoay quanh động cơ của nhà nước và chính phủ. Nếu ví Việt Nam là một doanh nghiệp, thì Việt Nam có thể được xem như một doanh nghiệp đang trong giai đoạn sung mãn và tăng trưởng, tuy nhiên, doanh nghiệp đó gặp một chút vấn đề về tài chính (nợ công giai đoạn 2010 – 2015), và để giải quyết vấn đề tài chính, doanh nghiệp này buộc phải gia tăng nguồn thu để bù đắp tài chính (giải quyết vấn đề nợ công). Như vậy, ba chính sách bên trên có thể lần lượt xem như là: chính sách lãi suất với chủ trương nới lỏng tiền tệ, giữ lãi suất ở mức thấp nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế, mặt khác cung tiền nới lỏng thúc đẩy tăng trưởng trong các lĩnh vực khác, giúp việc thoái vốn nhà nước được thuận lợi hơn với giá cả tốt nhất; các doanh nghiệp mà nhà nước muốn thoái vốn chính là sản phẩm đầu ra (động cơ và lực đẩy trên TTCK), và nâng hạng thị trường có thể ví như chính sách marketing của doanh nghiệp, sửa sang ngôi chợ khang trang hơn để mời gọi người mua và nhà đầu tư. Như vậy, ba vấn đề bên trên đã bao gồm cả góc độ vĩ mô và vi mô. Việc thoái vốn nhà nước và nâng hạng thị trường tạo ra cơ hội lớn trên TTCK trong ngắn hạn, thì ngược lại, lãi suất sẽ là thách thức lớn của thị trường trong dài hạn. Mặc dù, chính sách lãi suất thấp hiện tại đang là tiền đề để các thị trường thăng hoa. Nếu tinh ý một chút, chúng ta thấy rằng sự vận động lãi suất của Việt Nam hiện tại có chút “khác biệt” so với sự vận động lãi suất của Mỹ. Trong khi lãi suất của Mỹ có xu hướng tăng khi nền kinh tế dần có những dấu hiệu tăng trưởng tích cực thì lãi suất của Việt Nam vẫn tiếp tục được duy trì ở mức thấp mặc dù tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã có những dấu hiệu cải thiện rõ rệt. Chính điểm này sẽ tạo nên thách thức và được tôi trình bày bên dưới.

Bài viết này cũng sẽ lồng ghép lý thuyết “chi tiêu trên thu nhập kỳ vọng” vào giai đoạn tăng trưởng hiện tại vì nó góp 1 phần vào chu kỳ tâm lý của thị trường trong những giai đoạn thăng hoa và 1 phần tác nhân khiến các thị trường tăng trưởng nóng. Người ta thường có thói quen chi tiêu hoặc đầu tư nhiều hơn nếu thu nhập hiện tại và thu nhập kỳ vọng gia tăng. Chẳng hạn, khi việc đầu tư chứng khoán trở nên dễ dàng hơn trong những giai đoạn tăng trưởng nóng, nhà đầu tư sẽ mạnh dạn vay nhiều hơn để đầu tư, hoặc chi tiêu nhiều hơn do kỳ vọng mức thu nhập cao ở hiện tại sẽ tiếp diễn trong tương lai. Tuy nhiên, đến khi nền kinh tế đảo chiều và gặp nhiều khó khăn hơn, mọi thứ có thể đảo lộn một cách nhanh chóng, cuốn mọi thứ vào vòng xoáy của khủng hoảng. Bài viết có thể hơi dài, nhưng mục đích chính không đơn thuần chỉ là dự báo mà còn note lại những lập luận tư duy để sau này có thể kiểm chứng những diễn biến thực tế của nền kinh tế và thị trường so với những lập luận lý thuyết ở hiện tại.

Cơ Hội

Cơ hội lớn nhất trên TTCK đến từ động cơ thoái vốn của chính phủ tại các doanh nghiệp nhà nước. Và để thoái vốn được giá tốt nhất đem về nguồn thu bù đắp và giải quyết vấn đề tài chính, các chính sách hỗ trợ nền kinh tế và thị trường liên tục được bơm ra. Chính sách tiền tệ nới lỏng với lãi suất thấp kích thích tăng trưởng kinh tế và thị trường chứng khoán. Các hàng rào kỹ thuật trên TTCK dần được tháo dở để kịp thời đáp ứng các tiêu chuẩn nâng hạng thị trường.

Mục tiêu nâng hạng TTCK nếu tiến triển thuận lợi thì có thể đạt được vào cuối 2019 hoặc 2020. Điểm đáng mừng của sự kiện nâng hạng thị trường là các thống kê về thị trường của các nước được nâng hạng thì TTCK sẽ có tốc độ tăng trưởng 50% trong 2 năm liên tiếp trước năm nâng hạng và đạt đỉnh vào năm nâng hạng (75% các nước được nâng hạng). Năm 2017, TTCK Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng kỷ lục với mức độ tăng trưởng 45%, có thể xem như là năm bản lề khởi đầu cho giai đoạn như vậy.

Động cơ thoái vốn Nhà Nước có thể là động lực lớn khiến chính phủ Việt Nam tiếp tục chủ trương giữ lãi suất ở mức thấp một thời gian dài. Lãi suất và chính sách tiền tệ chịu sự điều phối mang tính chất mệnh lệnh của chính phủ, lãi suất ở mức thấp sẽ khiến dòng tiền dịch chuyển sang các kênh đầu tư và chi tiêu khác ngoài kênh gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, về lâu dài, lãi suất vốn chịu quy luật cung – cầu trong kinh tế, nên sự vận động của lãi suất, đến một lúc nào đó buộc phải đi sát với sự tương quan cung cầu tiền tệ trong thực tế. Nếu tiền tệ được xem như là 1 loại hàng hóa thì lãi suất là sẽ biến động theo tương quan cung cầu của nó, lãi suất chính là giá của đồng tiền. Khi nền kinh tế dần phục hồi và đạt tốc độ tăng trưởng tốt, cầu tiền tệ có xu hướng gia tăng, các doanh nghiệp cần nhiều vốn hơn để tái đầu tư và mở rộng sản xuất trong giai đoạn tăng trưởng, các cá nhân và hộ gia đình cũng gia tăng đầu tư và chi tiêu cá nhân. Tất cả các nhân tố này cộng hưởng tạo thúc đẩy các lĩnh vực từ sản xuất đến tài chính tăng trưởng nhanh. Và hệ quả của nó, là cầu tiền tệ sẽ gia tăng, tạo áp lực lên lãi suất. Khi lãi suất có xu hướng tăng thì nó trở thành thách thức!

Thách Thức

Nếu quan sát các thời kỳ tăng trưởng nóng và lịch sử hình thành các giai đoạn bong bóng của tài sản đầu tư, thì một điểm đáng chú ý là các giai đoạn bong bóng hình thành trong các thời kỳ lãi suất được giữ ở một mức thấp kỷ lục trong 1 thời gian dài.

Bên dưới là biểu đồ tương quan giữa lãi suất và tăng trưởng GDP của Mỹ (làm đại diện cho chu kỳ kinh tế). Chúng ta thấy rằng, tăng trưởng kinh tế bùng nổ sau 1 – 2 năm khi lãi suất tạo đáy và sự suy thoái xuất hiện khi lãi suất đạt đỉnh. Mối tương quan giữa lãi suất và tăng trưởng kinh tế nếu nhìn trực quan thì là mối tương quan ngược, và có quan hệ nhân quả, cái này kéo theo cái kia.

Chẳng hạn, khi kinh tế trì trệ và khủng hoảng, thì chính sách lãi suất thấp trở nên phổ biến, lãi suất được neo giữ ở mức thấp để kích thích kinh tế phát triển. Đến khi kinh tếp phục hồi và khởi sắc thì nó lại kéo theo hậu quả là lãi suất có xu hướng tăng dần lên. Biểu đồ bên trên cho thấy sau các giai đoạn tăng trưởng nóng, lãi suất đột ngột tăng nhanh lên mức đỉnh điểm tromng 2 – 3 năm tiếp theo. Lãi suất tăng, cuối cùng lại khiến kinh tế hạ nhiệt và rơi vào thời kỳ suy thoái và trì trệ trong các năm tiếp theo. Sự chuyển động lãi suất của Mỹ giai đoạn hiện nay có điểm khác biệt rất lớn so với sự vận động của nó trong lịch sử. Nếu trước đây, khi kinh tế tăng trưởng nóng thì lãi suất đột ngột tăng mạnh từ vùng đáy khiến nền kinh tế hứng chịu những cú shock, thì hiện tại Mỹ đã điều hành lãi suất theo hướng bậc thang, lãi suất tăng dần theo từng quý, phù hợp với diễn biến của nền kinh tế.

Nói về tương quan cung cầu tiền tệ và lãi suất. Thì chính sách lãi suất thấp được neo giữ càng lâu, trong ngắn hạn là điều tốt. Nhưng về dài hạn, tương quan cung cầu tiền tệ thực tế sẽ khiến lãi suất buộc phải tăng cùng chiều với tăng trưởng kinh tế. Việc neo lãi suất ở mức thấp một thời gian dài tạo nên hiện tượng phân kỳ về lãi suất, cái sẽ trở thành thách thức với các thị trường đầu tư và tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Sự phân kỳ lãi suất là hiện tượng mà lãi suất được chính phủ neo giữ ở mức thấp mà đáng lẽ ra nó đã phải tăng vì kinh tế đã có những sự tăng trưởng tích cực, lãi suất dưới sự điều hành mệnh lệnh của chính phủ đã không theo sát những biến động thực tế của lãi suất theo tương quan cung cầu tiền tệ. Vậy sự phân kỳ về lãi suất được tôi nêu bên trên dẫn đến vấn đề gì?

Hãy hình dung thế này, khi lãi suất được neo giữ ở mức thấp 1 thời gian dài, dòng tiền có xu hướng dịch chuyển khỏi kênh tiết kiệm, chảy mạnh vào các kênh đầu tư như chứng khoán, bất động sản, chi tiêu hàng hóa, khiến các thị trường này thăng hoa, mặt bằng giá được nâng lên một cách đáng kể và vượt xa giá trị vốn có của chúng. Giá cả trên các thị trường bị kích thích và được cấu thành bởi 1 phần tương đối lớn từ bản chất đầu cơ. Sự thăng hoa sẽ tiếp diễn nếu lãi suất tiếp tục thấp như vậy.

Nhưng tương quan cung cầu tiền tệ trong thực tế sẽ gây áp lực lên lãi suất, nếu chính phủ neo lãi suất ở mức thấp càng lâu thì sức bật của nó trong tương lai càng lớn. Hãy tưởng tượng, sự thăng hoa của các thị trường được kéo dài trong môi trường lãi suất thấp và hiện tượng bong bóng và đầu cơ xuất hiện và sau đó, lãi suất đột ngột tăng nóng thì hậu quả sẽ như thế nào?

Có thể quan sát sự vận động của cung cầu tiền tệ trong hệ thống ngân hàng, vì sản phẩm và hàng hóa của ngân hàng chính là tiền tệ, huy động đầu vào là cung tiền và tăng trưởng tín dụng thể hiện cho cầu tiền tệ. Các báo cáo hoạt động kinh doanh và dòng tiền của ngân hàng đang cho thấy, tăng trưởng tín dụng đang tăng dần và đạt mức cao từ 20 – 25% trong khi tăng trưởng huy động chỉ đạt mức 15- 17%, thấp hơn cùng kỳ năm ngoái. Điều đó cho thấy, áp lực huy động vốn đang gia tăng khi lãi suất giữ ở mức thấp, lãi suất ngân hàng trở nên kém cạnh tranh hơn so với sự tăng trưởng nóng từ các kênh khác như chứng khoán, bất động sản và sản xuất. Như vậy, cầu tiền tệ đang có xu hướng tăng dần theo sự tăng trưởng kinh tế, gây áp lực gia tăng lên lãi suất.

Vòng xoáy tâm lý

Trong các chu kỳ kinh tế tăng trưởng nóng, cần thiết đề cập đến 1 hiện tượng kinh tế mà chính nó là tác nhân góp phần giá cả hàng hóa tăng trưởng nóng và được cấu thành bởi phần lớn yếu tố đầu cơ. Đó là hiện tượng chi tiêu và đầu tư dựa trên kỳ vọng thu nhập!

Khi kinh tế tăng trưởng nóng, các thị trường đầu tư cho mức tỷ suất sinh lợi cao. Người ta có xu hướng giả định mọi thứ sẽ tiếp diễn trong tương lai. Các cá nhân và hộ gia đình sẵn sàng gia tăng nợ vay để tái đầu tư và chi tiêu với một tỷ trọng cao hơn tương ứng với thu nhập kỳ vọng trong tương lai, thậm chí sẵn sàng vay với mức lãi suất cao hơn. Điều này khiến giá cả hàng hóa và các tài sản đầu tư tiếp tục tăng trưởng nóng trong ngắn hạn, mặt bằng giá đạt đến các mức cao mới, vượt xa giá trị thực của nó.

Ban đầu, khi lãi suất rục rịch tăng và chưa thấm vào nền kinh tế thì mọi thứ vẫn diễn biến thuận lợi. Khi lãi suất tăng dần và đạt đến điểm bão hòa của cầu tiền tệ, giá cả của đồng tiền trở nên đắt đỏ, người ta không còn sẵn sàng vay với mức lãi suất đó để tái đầu tư và chi tiêu sẽ kéo theo sự bão hòa trên thị trường hàng hóa và các kênh đầu tư. Nếu lãi suất đột ngột đảo chiều và tăng mạnh từ vùng đáy do được neo ở mức thấp một thời gian dài, sẽ khiến dòng vốn chảy ngược vào kênh gửi tiết kiệm, sự tăng trưởng tại các kênh đầu tư bắt đầu chậm lại, áp lực chi trả lãi vay sẽ cao hơn và tiêu dùng sụt giảm do kỳ vọng về thu nhập có xu hướng sụt giảm theo. Tất cả những yếu tố bên trên cộng hưởng và khiến nền kinh tế cũng như các kênh đầu tư bước vào thời kỳ hạ nhiệt, vòng xoáy của nó lại kéo theo các giai đoạn giảm giá kéo dài. Hơn nữa, các thị trường đầu tư trước đây được kích thích bởi chính sách nới lỏng tiền tệ càng dài bao nhiêu thì tác động của sự gia tăng lãi suất lên thị trường sẽ càng lớn với mức hủy hại càng cao bấy nhiêu.

Như vậy, sự diễn giải về thách thức của nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng bên trên có thể giải đáp phần nào cho những sự hoài nghi về sự tăng trưởng nóng của thị trường gần đây. Khi TTCK đạt đến mức điểm cũ năm 2007 thì người ta lại lo ngại rằng, chu kỳ bong bóng và khủng hoảng 10 năm một lần liệu có lặp lại. Việc đoán già đoán non mà không có lập luận cơ sở có thể sẽ khiến chúng ta phải trả giá đắt khi các hành vi sai lầm về tâm lý trong đầu tư thường có xu hướng lặp lại. Việc xem xét tương quan kinh tế chỉ dưới góc độ lãi suất và chính sách tiền tệ tuy đơn giản nhưng việc đơn giản hóa các khía cạnh kinh tế dưới góc độ giản đơn sẽ giúp chúng ta dễ nhận biết hơn khi các chuyển động về lãi suất rục rịch thay đổi.

TTCK Việt Nam vẫn đang được hỗ trợ bởi những điều kiện tương đối thuận lợi khi lãi suất vẫn được giữ ở mức thấp, nền kinh tế khởi sắc với tốc độ tăng trưởng hàng đầu thế giới. Các hàng rào kỹ thuật trên TTCK sẽ dần được tháo dỡ và hoàn thiện để đáp ứng các tiêu chí nâng hàng thị trường, chính phủ vẫn còn động cơ lớn là thoái vốn tại các DNNN, là đòn bẩy để TTCK tiếp tục thăng hoa và khởi sắc 1 – 2 năm sắp tới. Tuy nhiên, một điểm mà NĐT cần lưu ý khi đưa ra các quyết định về quản trị dòng vốn đầu tư là lãi suất, hãy luôn để tâm đến sự chuyển động của lãi suất, vì lịch sử đã chứng minh rằng, các thị trường và nền kinh tế sẽ đảo chiều mạnh mẽ khi lãi suất bắt đầu gia tăng.

VIET EURO

BÌNH LUẬN( 0)

CÁC TIN LIÊN QUAN

Đối tác