Điện thoại / Facebook / Zalo: 0909 633 345

Chiến Lược Đầu Tư Ngành Đá Xây Dựng

242 lượt xem - Ngày:

Làn sóng đầu tư công, nâng cấp cơ sở hạ tầng, đón đầu xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư từ Trung Quốc sang Việt Nam đang là động lực chính hỗ trợ và thúc đẩy các doanh nghiệp VLXD và BĐS khu công nghiệp trong các năm sắp tới. Đặc biệt là khả năng Trump tái đắc cử thêm 1 nhiệm kỳ có thể tiếp tục khiến mẫu thuẫn Mỹ – Trung thêm căng thẳng trên đấu trường chính trị và kinh tế. Trong ngắn hạn, điều đó tạo nên các bất ổn trên hệ thống tài chính toàn cầu nhưng đồng thời cũng là thời cơ để Việt Nam gián tiếp hưởng lợi từ sự dịch chuyển dòng vốn đầu tư và trở thành công xưởng sản xuất ở khu vực Đông Nam Á nhờ vị trí địa lý thuận lợi và nguồn nhân công giá rẻ. Ngành khai thác đá xây dựng là một ngành có lợi thế đặc thù. Vị thế của mỗi doanh nghiệp trong ngành sẽ phụ thuộc vào giấy phép khai thác, thời gian và giá trị của công suất khai thác các mỏ đá đang sở hữu, có sự khác biệt rất lớn với các ngành vật liệu xây dựng khác như ngành xi măng – vốn là một ngành phân mảnh có tính chất cạnh tranh khốc liệt có thể khiến biên LN của các doanh nghiệp trong ngành sụt giảm. Với lợi thế đặc thù nằm ở giá trị của các mỏ đá mà mỗi doanh nghiệp đang sở hữu, việc phân tích và tiếp cận chiến lược đầu tư đối với ngành khai thác đá sẽ dễ dàng hơn các nhóm ngành khác. Tuy nhiên, bản thân các DN trong ngành khai thác đá đang có những vấn đề khác nhau mà NĐT cần lưu ý để ra quyết định đầu tư sẽ được đề cập trong bài viết này.

Những điểm mà NĐT cần lưu ý đối với các cổ phiếu thuộc nhóm ngành khai thác đá là:

Thứ nhất, đặc thù những cổ phiếu thuộc nhóm ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên là nằm ở giấy phép khai thác các mỏ tài nguyên, cổ phiếu sẽ có tính hấp dẫn cao đối với NĐT nếu có lịch sử cổ tức tiền mặt đều đặn hằng năm. Vì giá trị tài nguyên khai thác xong, trừ trường hợp được tái đầu tư hiệu quả vào lĩnh vực khác thì phải được chia lại cho cổ đông thông qua cổ tức tiền mặt. Không ít nhóm ngành và cổ phiếu khai khoáng trước đây, sau này trở thành các cổ phiếu penny vì lý do giá trị của nguồn tài nguyên sở hữu suy giảm. Giấy phép khai thác các mỏ đá đồng thời cũng là rào cản gia nhập ngành, giúp các DN trong ngành bảo vệ được biên lợi nhuận của mình.

Thứ hai, vì giá trị của doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào giá trị của các mỏ đá đang sở hữu, NĐT mua cổ phiếu của DN nên tiếp cận dưới góc độ mua giá trị tài sản của DN chứ không mua dòng tiền, điểm này khác biệt tương đối lớn với các DN sản xuất trong các lĩnh vực khác. Điều này cũng cho phép chúng ta tiếp cận góc độ đầu tư đơn giản hơn so với các nhóm ngành khác, khi NĐT có thể lượt bỏ các công đoạn xác định tiềm năng và xu hướng tiêu dùng, cũng như việc dự phóng các tốc độ tăng trưởng về doanh thu và lợi nhuận theo chu kỳ.

Thứ ba, các thông tin NĐT tiếp cận đối với ngành khai thác đá là các thông tin tổng quát, có tính tin cậy cao và ít bị chi phối bởi các doanh nghiệp đơn lẻ trong ngành. Ví dụ, các thông tin về các dự án và tiến độ thi công các dự án đầu tư công, thông tin về các mỏ đá mà các DN đang sở hữu. Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, nguồn thông tin thường có giá trị tham khảo đáng tin cậy nhất là các thông tin về sản lượng và nhu cầu tổng quan của ngành.

Cuối cùng, mỗi cổ phiếu trong ngành có những vấn đề riêng về cơ cấu tài sản và nguồn vốn, cổ tức sụt giảm trong các năm gần đây, tính thanh khoản giao dịch trên thị trường (ví dụ KSB có khoản phải thu cao hơn nợ vay nhưng là DN có mỏ đá tốt nhất ngành, NNC và DHA vẫn duy trì mức cổ tức tiền mặt cao nhưng lại không có thanh khoản). Điều này dẫn đến 1 chiến lược đầu tư được đề cập trong bài viết này, đó là chiến lược pha trộn danh mục đầu tư để giảm thiểu rủi ro nhưng đồng thời không bỏ lỡ cơ hội đầu tư từ các DN có các mỏ đá tốt nhất trong ngành.

Để tận dụng các DN có mỏ đá tốt và giảm thiểu rủi ro về cơ cấu nguồn vốn, NĐT có thể phân bổ danh mục theo tỷ trọng vốn hóa như cột KTD 1 – 2 – 3

Bên trên là thông tin về các mỏ đá thuộc các DN khai thác đá trên sàn, 2 doanh nghiệp có các mỏ đá với công suất khai thác lớn nhất và ở vị trí khá đắc địa, nằm ngaay tâm điểm của các thành phố vệ tinh xung quanh các công trình trọng điểm quốc gia như sân bay Long Thành – Đồng Nai là khoáng sản Bình Dương (KSB) và Vật liệu xây dựng Đồng Nai (VLB).

Nếu quan sát giá trị vốn hóa của các DN đá xây dựng, chúng ta thấy thị trường định giá các DN này theo quy mô các mỏ đá đang sở hữu, đi kèm với lịch sử chi trả cổ tức tiền mặt có thể xem như là một điểm cộng, và một phần phụ thuộc vào cơ cấu tài sản và nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán của các DN này. Mỗi một doanh nghiệp có điểm mạnh và điểm yếu riêng. Chẳng hạn, trừ VLB (thanh khoản giao dịch quá thấp) thì KSB có thể xem là doanh nghiệp có quy mô và công suất khai thác mỏ đá tốt nhất trên sàn, thanh khoản giao dịch của cổ phiếu khá tốt, nhưng điểm trừ của doanh nghiệp này là bảng CĐKT có vấn đề ở “Khoản phải thu” và nợ vay cao, đi kèm việc không chia cổ tức trong năm gần nhất.

Đối với các doanh nghiệp đá xây dựng, giá trị của nó nằm ở giấy phép khai thác các mỏ đá nên việc định giá của thị trường là tương đối hợp lý và dễ dàng hơn các nhóm ngành khác, chúng ta giả định thị trường đã định giá “hợp lý” các doanh nghiệp này thông qua giá trị vốn hóa. Việc này nhằm lên chiến lược đầu tư phân bổ theo tỷ trọng trong bài viết này. Trong 5 DN khai thác đá bên trên, tổng số lượng cổ phiếu chỉ tầm 150 triệu, chưa kể một phần được sở hữu bởi các cổ đông lớn và các cổ đông nội bộ, nếu cộng tổng lại thì chỉ tương đương 1 DN midcap trên sàn, nên thay vì chỉ nhắm một doanh nghiệp để đầu tư chúng ta sẽ phân bổ theo 1 tỷ trọng theo sự tương quan về vốn hóa giữa các mã.

Ý tưởng đầu tư ở đây là chúng ta đang mua mỏ đá chứ không tập trung mua cổ phiếu của một doanh nghiệp đơn lẻ. Bằng cách pha trộn 1 danh mục gồm 3 cổ phiếu trong ngành đá, chúng ta có thể giảm tính rủi ro của việc mua một cổ phiếu đơn lẻ trong số đó. Chẳng hạn, nếu NĐT chỉ chọn 1 DN có cơ cấu tài chính lành mạnh và có cổ tức tốt như NNC, DHA, C32 thì có thể bỏ qua cơ hội khi KSB đang sở hữu các mỏ đá tốt nhất. Nhưng nếu chỉ tập trung mua KSB thì rõ ràng sẽ phải chấp nhận những “vấn đề” trong bảng cân đối kế toán của nó (sẽ được phân tích trong video trên kênh youtube: COPHIEU24H TV).

Chúng ta giả định như danh mục gồm 3 cổ phiếu ngành đá xây dựng là một mã tôi tạm ví dụ là KTD – danh mục này sẽ pha trộn theo tỷ lệ vốn hóa của 3 mã được chọn. Ví dụ, trong bảng phân bổ danh mục bên trên, thay vì NĐT chỉ đầu tư vào 1 mã duy nhất là KSB, NĐT sẽ pha trộng 1 danh mục gồm 3 mã KSB (50%) – DHA (30%) – C32 (20%) theo tỷ lệ vốn hóa của nó ở thời điểm hiện tại.  Bằng cách này chúng ta sẽ giảm tỷ lệ cơ cấu nguồn vốn của danh mục về mức “phù hợp”, giảm rủi ro, đồng thời, vẫn được nhận cổ tức từ các mã có cổ tức hằng năm trong danh mục. Đồng thời, khắc phục nhược điểm thanh khoản thấp của các mã cô đặc như DHA – C32. Hơn nữa, đặc thù của những nhóm ngành cổ phiếu cô đặc và thanh khoản thấp như thế này, thông thường các cổ phiếu trong ngành thường tăng chung và giảm chung trong ngắn và dài hạn.

Bên cạnh đó, tùy thuộc vào chuyển biến từng giai đoạn, chúng ta có thể tái phân bổ lại tỷ trọng danh mục bằng cách loại bỏ và thay thế bằng một cổ phiếu khác nếu các cổ phiếu khác trong nhóm ngành khai thác đá có thanh khoản hơn trên thị trường hoặc loại trừ các doanh nghiệp có các quỹ đá hết thời hạn khai thác.

Vì chúng ta đi mua giá trị của mỏ đá nên dưới góc độ đầu tư, chúng ta sẽ mua mỏ đá khi giá của nó ở mức “hợp lý” và bán vào thời kỳ thịnh vượng của các doanh nghiệp khai thác đá này (khi doanh thu và lợi nhuận tăng mạnh). Thông tin các dự án đầu tư công của chính phủ là thước đo tham khảo phù hợp, vì đây là nguồn thông tin minh bạch và ít bị chi phối bởi các DN đơn lẻ vì các động cơ tác động lên giá cổ phiếu (không xét đến các động cơ mang tính chất lướt sóng ngắn hạn). Chúng ta sẽ đầu tư vào các doanh nghiệp khai thác đá đầu giai đoạn xây dựng các dự án này và bán cổ phiếu vào cuối giai đoạn xây dựng các dự án hoặc có thể chờ thêm khi thị trường BĐS dân dụng bùng nổ. Đầu tư vào ngành khai thác đá là chúng ta đầu tư mua tài nguyên nên ý tưởng đơn giản là chúng ta mua nó khi cầu đá xây dựng ở mức thấp và bán nó vào thời kỳ cầu đá xây dựng bùng nổ.

Mặc dù, tác động của các dự án đầu tư công của chính phủ lên doanh thu và lợi nhuận của các DN này có thể chưa phát huy ngay trong năm nay. Có thể từ năm 2021, tác động của các dự án này lên ngành đá mới rõ nét, nhưng giá cổ phiếu vốn dĩ là phản ánh kỳ vọng nên trong năm 2020, giá cổ phiếu ngành đá khó có thể giảm sâu, thậm chí là có giai đoạn tăng giá khởi đầu cho một chu kỳ mới. Xét dưới góc độ dài hạn, cho cả 1 chu kỳ từ 3 đến 5 năm thì năm nay sẽ là năm phù hợp đối với NĐT giá trị, sẵn sàng gom dần cổ phiếu ngành khai thác đá và nắm giữ trong vài năm sắp tới. Giai đoạn vừa qua, các DN trong ngành có cơ cấu nguồn vốn với tỷ trọng nợ vay tăng dần, mục đích nhằm gia tăng nguồn vốn để M&A các mỏ đá, nguồn tiền thặng dư có thể gia tăng trong các năm sắp tới nên cổ tức tiền mặt sẽ là điểm đáng lưu tâm đối với các cổ phiếu dạng khai thác tài nguyên thiên nhiên như thế này.

Trừ trường hợp bảng cân đối kế toán của các DN trong ngành có vấn đề lớn thì chúng ta sẽ xem xét phân bổ lại tỷ trọng danh mục. Việc định giá DN chúng ta sẽ tận dụng báo cáo phân tích từ các công ty chứng khoán và theo sát chuyển biến kết quả kinh doanh của từng doanh nghiệp trong từng thời kỳ.

Đi kèm bài viết này là video các bạn có thể tham khảo bên dưới, trong video, chúng ta sẽ xem xét các vấn đề trong bảng cân đối kế toán của mỗi DN, lợi thế và tiềm năng của mỗi DN về mặt cơ bản và phần cuối trong video sẽ là phân tích kỹ thuật ở thời điểm hiện tại:

Chờ update: …………………………………….

Theo sau video này, sẽ là các khuyến nghị và update về phân tích cơ bản và PTKT đối với từng cổ phiếu vào các thời điểm phù hợp nhằm hỗ trợ NĐT có các quyết định mua – bán ngắn hạn hơn.

VIỆT HỒ


BÌNH LUẬN( 0)

CÁC TIN LIÊN QUAN